Ứng xử là gì

ỨNG XỬ LÀ GÌ???

 

Ứng xử là một biểu hiện của giao tiếp, là sự phản ứng của con người trước sự tác động của người khác với mình trong một tình huống nhất định được thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng của con người nhằm đạt kết quả tốt trong mối quan hệ giữa con người với nhau. Xét trên bình diện nhân cách thì bản chất của ứng xử chính là những đặc điểm tính cách của cá nhân được thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ và cách nói năng của cá nhân với những người xung quanh.

Hành vi ứng xử văn hóa là những biểu hiện hoạt động bên ngoài của con người, được thể hiện ở lối sống, nếp sống, suy nghĩ và cách ứng xử của con người đối với bản thân, với những người chung quanh, trong công việc và môi trường hoạt động hằng ngày. Tuy nhiên hành vi ứng xử văn hóa của mỗi cá nhân là khác nhau, nó được hình thành qua quá trình học tập, rèn luyện và trưởng thành của mỗi cá nhân trong xã hội. Hành vi ứng xử văn hóa được coi là các giá trị văn hóa, đạo đức, thẩm mỹ của mỗi cá nhân được thể hiện thông qua thái độ, hành vi, cử chỉ, lời nói của mỗi cá nhân đó. Nó được biểu hiện trong mối quan hệ với những người xung quanh, trong học tập, công tác, với bạn bè cùng trang lứa và thậm chí ngay cả với chính bản thân họ.

Đã có một thời người Việt Nam được dạy và học từ tấm bé về “học ăn – học nói” không chỉ ở thành thị mà ở cả các vùng thôn quê, lại chính là thời phong kiến và Pháp thuộc. Sự dạy ấy nằm ngay trong sách giáo khoa “Luân lý – Đạo đức” bậc Tiểu học. Những người tuổi vắt qua ba thời: “thực dân – đế quốc – xã hội chủ nghĩa”. Cả hai thời thực dân và phong kiến trước đây, con trẻ đều được dạy: “học ăn – học nói”. Cái thời ấy học là để ứng xử cho phải đạo, cho phải phép chứ đâu đã có khái niệm học là để “có văn hóa”.

Học ăn là ăn sao cho đẹp miệng đẹp cái nết ăn: Trước khi vào bữa phải mời từ người nhiều tuổi tới người ít tuổi. Mời dùng cơm chứ không phải ăn cơm. Lấy thức ăn gắp một lần không đảo bới vào đĩa hay tô thức ăn. Nhai khép miệng không nhồm nhoàm. Chuyện trò nhỏ nhẹ không nói lớn bắn cả thức ăn vào mâm chung. Không đưa chén ăn qua mặt người cùng mâm và nhận lại chén ăn nên bằng hai tay. Nhìn mọi người mà ăn nhất là với người lớn tuổi, chú ý lượng cơm và thức ăn, không vì khoái khẩu mà ăn không biết đến ai. Ngồi xa bàn ăn thẳng ngay không vục mặt ăn như một kẻ đói khát. Sách “Luân lý – Đạo đức” viết: “Ăn coi nồi – ngồi coi hướng” là thế.

Học nói khó hơn học ăn vì cần thêm suy nghĩ chứ không chỉ đơn thuần thói quen. Trước hết, học chào hỏi, kính trên nhường dưới và học cách đáp lễ. Biết nói câu “xin lỗi” khi làm phiền ai, và nói câu “cảm ơn” khi nhận được giúp đỡ. Biết kìm nén cảm xúc để nói lời nhẹ êm khi tức giận và tập cách tự trách mình trước khi trách người.

Học cười là chuyện tưởng như vớ vẩn nhưng rất quan trọng. Triết gia người Pháp Ph. Flecher từng nói: “Nụ cười bồi dưỡng kẻ mệt nhọc, là bình minh cho kẻ bi quan, là nắng xuân cho người buồn bã, là liều thuốc màu nhiệm nhất cho kẻ lo âu”.

Các nhà nghiên cứu đã liệt kê ra hàng chục kiểu cười khác nhau. Cười rụt rè, cười nhếch mép, cười rạng rỡ, cười khó chịu, cười hăm dọa, cười sợ hãi, cười thanh thản, cười khêu gợi, cười xã giao, cười cảm thông, cười khó hiểu, cười vô nghĩa nữa…

Vì sự muôn hình vạn trạng, sự lợi hại của nụ cười nên con người muốn thành công, không bị hiểu lầm, v.v… đều cần phải học cười. Có nhiều ngành nghề, công việc phải học cười như ngành hàng không, ngoại giao, thương mại, maketing…

Học cười – trong những trường hợp nào thì cười – vì có những cái cười vô duyên, gây phản cảm, làm hỏng việc. Cười nhiều quá cũng hỏng, cười không đúng lúc, đúng chỗ làm người nghe khó chịu, mất thiện cảm.

Có người trong đầu nghĩ đến chuyện gì đó buồn cười là họ cười ngặt nghẽo trước mà chẳng ai hiểu mô tê họ cười vì cái gì. Có những nụ cười quá nhiều kỹ năng quá chuyên nghiệp, vô hồn, không gây xúc động với người được nhận.

Muốn có nụ cười đẹp, nhiều khi phải tập, soi gương để quan sát nụ cười. Vì cái cười nhiều khi cũng bộc lộ nhược điểm, có người cười mặt mũi nhăn nhúm hết cả lại. Có người cười hở hết cả lợi. Có người cười phun cả nước bọt, cười the thé không sang, cười hinh hích… Cười căn bản là biểu cảm tâm trạng vui nhưng cũng phải tùy nơi tùy chốn để khi mình cười không bị người ta hiểu là cười nhạo – cười khinh – cười đểu. Học và thực hành lâu dần, lâu dần những “Nền ăn – nếp ở” ấy mới mong trở thành thói quen tốt, tập quán tốt. Một khi nó đã trở thành thói quen tốt, tập quán tốt khi ấy nó đã làm nên nét văn hóa mặc định của chính con người ấy. Một cộng đồng gồm toàn những người có văn hóa là một cộng đồng có văn hóa. Những đứa trẻ rèn luyện mình sống có văn hóa thường được hàng xóm láng giềng hàng phố khen là trẻ được giáo dục chu đáo, cha mẹ sung sướng lắm. Bằng không, bị chê là thiếu giáo dục, vô giáo dục. Cha mẹ buồn và xấu hổ.

Đi qua nhiều chục năm mà vẫn thấy hiện tượng vô văn hóa trong đời thường. Ví như sống buông thả, sa đà vào các tệ nạn xã hội: cờ bạc, ma túy, mại dâm… Đây hoàn toàn là những biểu hiện của nếp sống xa lạ, sai trái, đi ngược với truyền thống văn hóa dân tộc. Hiện tượng các bạn trẻ, thậm chí là học sinh THPT văng tục, chửi thề; ngang nhiên vi phạm luật lệ giao thông (vượt đèn đỏ, không đi vào làn đường quy định); có thái độ không đúng mực với người già; hành động thiếu văn hóa nơi công cộng như chen lấn, không xếp hàng, hút thuốc lá, vứt rác bừa bãi… còn khá phổ biến. Có người thản nhiên cởi trần dắt chó đi chơi phố, văng tục chửi thề nơi quán bia, hành xử côn đồ khi có va chạm, nói những lời khiếm nhã chốn đông người. Một bạn trẻ viết trên Facebook rằng: “Cha mẹ chỉ có 2 mạng. Còn thần tượng của em có đến 13 mạng vì ban nhạc này có 13 người”. Chẳng lẽ văn hóa dân tộc ta xây mãi không thành.

Văn hóa là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử. Chỉ riêng văn hóa ứng xử, về hình thức nó làm nên vẻ đẹp kiêu sa và về nội tâm nó làm nên vẻ đẹp phải cảm nhận mới thấy. Nhiều chục năm qua với lý do này lý do khác, bằng cách này cách khác nhiều thói quen tốt tập quán tốt đã bị “bức tử” mà nay cần phải được “tái sinh”, bắt đầu từ “Văn hóa xếp hàng”, “Văn hóa gõ cửa”, “Văn hóa cảm ơn – xin lỗi” với người dân, và “Văn hóa nhận lỗi với cử tri” ,“Văn hóa từ chức” với chính khách. Vậy là cả nước cùng học xây dựng văn hóa văn minh bất kể ai.
Người có văn hóa không nhất thiết phải là người có học vấn. Nền tảng của văn hóa phổ cập mà người ta thường dẫn ra để xem xét là “phông văn hóa”, chính là văn hóa ứng xử. Người xây dựng được cho mình một thói quen và tập quán tốt trong đời sống thường nhật mà ta gọi là nếp sống văn hóa, luôn tự tin và biết tự trọng, không đành lòng làm việc xấu xa vô liêm sỉ, và sẽ bức rức, xấu hổ khôn nguôi khi nghĩ tới việc đã một lần mình làm việc xấu xa đó.

Một thời và cả bây giờ, dường như câu nói “Mỗi người thầy là một tấm gương để học sinh noi theo” vẫn mang tính thời sự? – Không có gì đổi thay cả. Có điều những giá trị văn hóa toàn xã hội xuống cấp đến nhường ấy thì thầy cô giáo cũng không thể cầm lòng sống chay mãi mãi được. Từ nền tảng văn hóa bị vô hiệu, chúng ta đã phải gánh chịu nhiều hệ lụy trong đó có tệ tham nhũng vì mỗi con người tham nhũng không ý thức được tính vô liêm sỉ của hành động đó.

 

Tin Liên Quan