Giao tiếp là gì?

GIAO TIẾP LÀ GÌ???

 

GIAO TIẾP LÀ GÌ???

  1/  Giao tiếp được coi là một dạng hoạt động đặc biệt của con người trong đời sống xã hội

Đó là hoạt động xác lập và vận hành các quan hệ giữa con người với con người. Các quan hệ này có thể diễn ra giữa một người với một người khác, với một nhóm người, với tập thể với một tổ chức đoàn thể, giai cấp dân tộc hoặc con người với đời sống xã hội.

Giao tiếp là đối tượng của nhiều ngành khoa học: xã hội học, ngôn ngữ học, tâm lý xã hội….

Giao tiếp bắt nguồn từ đặc điểm và yêu cầu trong quá trình hoạt động của con người. Nó là nhu  cầu của con người trong đời sống của họ.

Trong giao tiếp mỗi người có thể đều là chủ thể. Giao tiếp là mối  quan hệ giữa chủ thể này với chủ thể khác. Những người tham gia vào quá trình giao tiếp thường tác động lẫn nhau và chịu ảnh hưởng của nhau về mặt tâm lý, ý thức.

Giao tiếp có thể có chức năng thuần tuý xã hội (thông tin quản lý…) hoặc chức năng tâm lý xã hội (phục vụ nhu cầu của từng người, làm cho mọi người gắn bó liên hệ với nhau, với cộng đồng…).

Tính xã hội và tính cá nhân trong giao tiếp của nhân cách :

Sự tồn tại và phát triển nhân cách phụ thuộc rất nhiều vào quá trình giao tiếp của nhân cách đó trong đời sống xã hội.

Quá trình giao tiếp này vừa mang tính chất xã hội, vừa mang tính cá nhân.

Tính xã hội trong giao tiếp:

– Phụ thuộc vào những phong tục tập quán, luật lệ, nếp sống quy định của xã hội địa phương.

– Phụ thuộc vào các mối quan hệ xã hội, vào mọi người xung quanh, tình huống xã hội.

– Phụ thuộc vào vai trò cá nhân ( giám đốc, thầy giáo, cha mẹ con cái, cương vị, quyền hạn…)

– Phụ thuộc vào nghề nghiệp.

Y thức cá nhân:

– Sự tự đánh giá bản thân.

– Động cơ giao tiếp cụ thể.

– Trạng thái tâm lý khi giao tiếp (tâm trạng, xúc động…)

– Tình huống giao tiếp cụ thể.

– Vốn  tâm lý cá nhân trong giao tiếp.

Khoảng cách tâm lý trong giao tiếp (còn gọi là khoảng cách cá nhân).

– Yếu tố thân tình: Mức độ thân thiết gắn bó hai người (bạn bè, yêu đương, quý mến nhau) yếu tố này tạo nên khoảng cách thân tình.

– Yếu tố cá tính: Sự khác biệt về đặc điểm cá tính (sở thích, năng lực, quan điểm …..). Yếu tố này tạo nên khoảng cách cá tính.

– Yếu tố vai trò : Mỗi người có vai trò nhất định quy định con người trong giao tiếp. Yếu tố này tạo nên khoảng cách xã hội.

– Yếu tố tư cách, vị trí giao tiếp: Khi giao tiếp cá nhân đứng trên vị trí nào (là hai người bạn, là hai người bình đẳng trong tập thể, hai người công dân trong xã hội… ). Yếu tố này tạo nên khoảng cách công cộng.

2/ Những phương tiện  giao tiếp

Phương tiện giao tiếp gì ?

Là những yếu tố cá nhân sử dụng để giao tiếp. Những yếu tố này rất phức tạp, đa dạng như ngôn ngữ, động tác hình thể, đồ vật… Việc sử dụng những phương pháp giao tiếp là rất linh hoạt, cá nhân thường sử dụng nhiều yếu tố để giao tiếp, kết hợp các yếu tố với nhau để giao tiếp… Việc sử dụng phương tiện biểu hiện trình độ giao tiếp, nghệ thuật giao tiếp của  con người.

Những phương tiện giao tiếp chủ yếu.

– Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ.

Những đặc điểm, hình thức cá nhân bao gồm: Đặc điểm cơ thể bên ngoài như tướng mạo, vẻ mặt, hình dáng  (cao,  thấp, lùn), nước da, cách sửa soạn trang điểm.

+ Dáng điệu, điệu bộ, ánh mắt, nụ cười, tư thế, tác phong.

+ Quần áo và cách ăn mặt (gọn gàng, lôi thôi, đẹp sang trọng, nhàu nát, hở hang ….). + Quần áo và cách ăn mặc phản ánh cá tính nghề nghiệp, địa vị và giai cấp, lứa tuổi, sắc phục (quần áo, đ ồng phục, công an, bộ đội …) phản ánh tầng lớp xã hội. Ở thời phong kiến, màu sắc và kiểu quần áo, giày dép, mũ …phản ánh địa vị xã hội.

– Phương tiện giao tiếp bằng cách cư  xử, đối xử, động tác hành vi. (nhã nhặn, lịch sự, kịch cợm, vụng về, khéo léo…).

+ Sự giao tiếp về vẻ mặt, bằng mặt, bằng nụ cười, bằng hành vi cử chỉ, động tác…được hình thành trong đời sống xã hội, quan hệ xã hội, hoàn cảnh, điều kiện, khoảng cách giữa các cá nhân, cá tính của các cá nhân…

+ Giao tiếp bằng mắt (ánh mắt, sự thay đổi hình thể của mắt như mở to mắt, trợn mắt, lim dim mắt…) có  tác dụng rất lớn. Người ta thường nói “Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn”.

+ Giao tiếp bằng nụ cười, vẻ mặt cũng có ý nghĩa tương tự. Những phương tiện phi ngôn ngữ còn mang đặt tính dân tộc, cả giai cấp. Người Nhật mở to mắt, trợn tròn mắt là giận dữ, nhưng ở người Việt Nam lại là sự ngạc nhiên, đôi khi biểu thị sự ngây thơ, chưa biết gì.

– Phương tiện giao tiếp thông qua vật chất những đồ vật cụ thể: quà tặng, tặng hoa, đồ vật ý nghĩa… Những hình ảnh, hình tượng : bưu ảnh, ảnh chụp. Danh thiếp, giấy viết thư có tiêu đề…

– Phương tiện giao tiếp thông qua những cử chỉ đặc biệt: ôm hôn, chào, vỗ vai, bắt tay, sự va chạm vuốt ve âu yếm…

3/   Phương tiện ngôn ngữ  

Là phương tiện chỉ có ở người, phụ  thuộc nhiều vào bản chất, chức năng, đặc điểm và tính ngôn ngữ người giao tiếp. Ở phương tiện này sự giao tiếp thường dựa vào những yếu tố sau :

– Nội dung ngôn ngữ : là ý nghĩa của lời nói, của từ.

– Tính chất ngôn ngữ : diễn tả nhịp điệu, âm sắc….

– Cách sử dụng từ lựa chọn:

+ Hoàn cảnh ngôn ngữ, nói trong trường hợp nào, mối quan hệ giữa các câu nói.

+ Trình độ sử dụng ngôn ngữ của câu nói.

+ Đặc điểm điệu bộ khi nói.

– Mối quan hệ nhân cách trong quá trình ngôn ngữ như: vị trí, vai trò người nói người nghe, nói cho ai nghe, nói vấn đề gì, lĩnh vực gì….

– Cá tính của người nói v.v…

4/ Những hình thức giao tiếp

– Giao tiếp cá nhân với cá nhân.

– Giao tiếp cá nhân với nhóm: đến gặp một gia đình, một nhóm bạn, sự giao tiếp này phức tạp hơn cá nhân cùng một lúc giao tiếp với nhiều người nhưng mang tính cá nhân.

– Thành phần cảm xúc: thái độ dễ thương, dễ chịu, ác cảm, khinh bỉ.

– Yếu tố tâm thế, tâm trạng, thế tâm lý, nghề nghiệp, …. (chú ý về bệnh nghề nghiệp, sự suy diễn theo đúng hướng tâm thế).

– Tuổi tác: người trẻ thiên về  hình thức, cái đẹp, người già thiên về đánh giá bản chất, suy luận.

            Khi đánh giá con người hoặc khi giao tiếp chúng ta cần phải chú ý tới yếu tố ấn tượng ban đầu. Ngược lại, cần chú ý gây ấn tượng ban đầu thuận lợi cho con người, có thể vận dụng vấn đề này trong quảng cáo, tuyên truyền, …. Ấn tượng ban đầu có vai trò đặc biệt, giúp ta đánh giá đầy đủ, thuận lợi hơn về đối tượng. Nhưng cũng có thể làm ta đánh  giá sai sự vật, hiện tượng. Nó tạo ra cho chúng ta những định hướng đầu tiên trong nhận thức, tri thức về đối tượng. Nó cũng dần dần tạo nên những “ấn tượng” về đối tượng.

 

Tin Liên Quan